Người làm việc part-time có cần ký kết hợp đồng lao động?

34

1. Làm việc part-time có phải ký hợp đồng lao động?

  • Làm việc “Part-time” có nghĩa là làm việc bán thời gian. Thông thường, các đối tượng như Sinh viên, nội trợ, mẹ bỉm sữa,…đã chọn công việc part-time để vừa đi học, vừa đi làm để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình; hoặc vừa chăm sóc con cái vừa có thể đi làm kiếm thêm thu nhập.
  • Bộ luật lao động 2019 không có khái niệm làm việc part-time mà tại khoản 1 điều 32 Bộ luật lao động 2019 quy định Người lao động làm việc không trọn thời gian: là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần hoặc theo tháng được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
  • Người lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương; bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ với người lao động làm việc trọn thời gian; bình đẳng về cơ hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (Căn cứ theo khoản 3 điều 32 Bộ luật lao động 2019)
  • Qua đó có thể thấy, làm việc bán thời gian cũng được xem là một hình thức của quan hệ lao động và không có sự phân biệt giữa người lao động làm việc toàn thời gian với bán thời gian.
  • Do vậy, doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm giao kết hợp đồng lao động với người làm việc part-time và phải đảm bảo các quyền lợi cho họ theo quy định pháp luật lao động.

2. Làm việc part-time có thể ký kết hợp đồng lao động dưới hình thức nào

Tùy thuộc vào tính chất công việc, mục đích, thời hạn,…các bên có thể thỏa thuận lựa chọn một trong 03 hình thức giao kết hợp đồng: bằng văn bản, lời nói hoặc dữ liệu điện tử

  • Hợp đồng lao động bằng văn bản;
  • Hợp đồng lao động bằng lời nói: chỉ được giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, loại trừ các trường hợp sau đây KHÔNG được giao kết HĐLĐ bằng lời nói:
  • Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng;
  • Đối với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
  • Đối với lao động là người giúp việc gia đình.
  • Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

3. Hợp đồng part-time có phải đóng bảo hiểm xã hội không?

  • Như đã phân tích trên đây, nếu sử dụng người lao động làm việc part time thì doanh nghiệp vẫn phải có trách nhiệm giao kết hợp đồng lao động. Tùy thuộc vào thời hạn làm việc mà các bên thỏa thuận, hợp đồng lao động là loại có thời hạn hoặc không xác định thời hạn.
  • Căn cứ vào loại hợp đồng giao kết để xác định xem người sử dụng lao động có phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động hay không. Khoản 1 Điều 2 Luật BHXH năm 2014 quy định:

“1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;”

  • Tuy nhiên, có nhiều trường hợp người làm việc part-time với thời gian không đủ tháng thì pháp luật có quy định như sau (Theo khoản 3 Điều 85 Luật BHXH 2014):

“3. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.”

Tóm lại, người làm việc part-time sẽ đóng BHXH nếu đáp ứng đủ hai điều kiện:

  • Giao kết hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên; và
  • Thời gian không làm việc, không hưởng lương không quá 14 ngày làm việc trong một tháng;

Lưu ý:

Nhiều doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng lao động với người làm việc bán thời gian thường đặt tên Hợp đồng với một tên gọi khác như hợp đồng cộng tác viên, hợp đồng hợp tác,…. Tuy vậy, nếu hợp đồng có quy định về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của doanh nghiệp thì hợp đồng đó vẫn được xem là hợp đồng lao động và chịu sự điều chỉnh của bộ luật lao động.

♦ YÊU CẦU CUNG CẤP DỊCH VỤ: Vui lòng liên hệ TẠI ĐÂY.